Sự phát triển nhanh
chóng phương tiện giao thông từ giữa thế kỷ
19 đă góp phần năng động trong việc thay đổi
bộ mặt và trật tự về khoảng cách và không
gian trên trái đất. Và cuộc cách mạng truyền
thông của thế kỷ 20 đă phá đổ những biên
giới và rào chắn giữa các quốc gia và lục
địa trên mặt địa cầu. Từ cái cũ bước qua cái
mới trong nhiều trường hợp không theo thứ
lớp của một quá tŕnh chuyển ḿnh tự nhiên
nheo mô thức cổ điển mà bằng những bước nhảy
vọt. Bước tiến nhảy vọt hôm nay vẫn c̣n bị
coi là hoang tưởng trong những thế kỷ trước.
Do đó, khái niệm “thời đại mới” không chỉ
đơn thuần liên quan đến tŕnh tự thời gian
như mới – cũ, xưa – nay, trước – sau theo
ṿng quay tự nhiên ngày đêm, tháng năm của
mặt trời, mặt trăng và trái đất. Cái “mới”
mang một ư nghĩa tích cực và bứt phá vượt ra
ngoài những quy ước truyền thống.
Thời đại mới trong thế kỷ nầy được xác
định với ư nghĩa tân tiến (modernism), hiện
đại (modernity) và cập nhật (up-to-dateness).
Những nguồn thông tin trên thế giới hiện
nay được thông báo gần như tức khắc và mọi
biến cố, sự kiện xảy ra trên khắp hành tinh
nầy đều được cập nhật từng giây, từng phút
một. Một sự kiện mang tính toàn cầu như Giải
Bóng đá Thế giới năm nay chẳng hạn, tuy diễn
ra tại Đức, nhưng xuất hiện cùng lúc ngay
trước mắt của khán giả mộ điệu trên toàn thế
giới qua phương tiện truyền thông đại chúng.
Mặc dầu “thời đại mới” không mang theo một
biệt lệ đối với bất cứ vùng đất hay sinh vật
địa cầu nào. Tuy nhiên, một thành viên hay
đối tượng trong cộng đồng thế giới có muốn
hay có chịu mở mắt, mở tai ra để nghe, để
nh́n, để biết những chuyện ǵ đang xảy ra
chung quanh ḿnh hay lại c̣n là chuyện khác
nữa. Thí dụ như cái gọi là “thời đại mới”
mang nặng tính chất cạnh tranh, chuyển
hướng, sinh tử đối với xă hội Âu, Mỹ hay nói
chung. Nhưng chẳng có một mảy may ảnh hưởng
hay tác động nào đối với các bộ tộc người Mỹ
Da Đỏ đang sống theo nền văn hóa bầy đàn cổ
sơ trong các khu biệt cư ở Trung Mỹ và Rocky
Mountains cả. Bởi vậy, nội hàm và tác động
của thời đại mới thường có giá trị và ảnh
hưởng một cách tương đối tùy theo con người
và hoàn cảnh.
Khái niệm “thời đại mới” trong bài nầy nhấn
mạnh đến bối cảnh của một không gian toàn
cầu hóa và một mô thức tiếp cận, liên lạc
cấp thời và trực tiếp. Mọi mặt của đời sống
chuyển biến tận gốc rễ về tốc độ cũng như về
quy mô. Tốc độ nhanh chóng và tính đại chúng
về phương tiện giao thông; không gian rộng
lớn và bao quát về mặt truyền thông… đă lay
chuyển tầm nh́n, tầm nghĩ, vừa mới, vừa xa,
vừa sâu hơn so với giới hạn trong một quá
khứ chỉ mới mấy năm về trước.
Việt Nam ngày nay với dân số 83 triệu người
được xem là một nước “trẻ trung” trong vùng
châu Á Thái B́nh Dương (Asian Pacific Rim).
Trẻ trung v́ dân số sinh ra sau năm 1975
chiếm đa số; trẻ trung v́ đang ở trên một
tốc độ chạy đua về phát triển kinh tế được
giới chuyên môn kinh tế thế giới ghi nhận là
khá nhanh; và trẻ trung v́ cả nước đang
chuẩn bị “gân cốt” để bước vào một thế hệ
mới – thế hệ của văn hóa thị trường.
Khoảng cách thế hệ (Generational gaps)
Khi nói đến tuổi trẻ, người ta thường hỏi
rằng, dựa trên tiêu chí nào để xác định tính
chất “trẻ” ở mỗi con người. Các nhà sinh vật
học th́ dựa trên tuổi tác và sự phát triển
về thể lực. Các nhà tâm lư học, nhất là
ngành tâm lư trị liệu (psychotherapy), th́
dựa trên sự phát triển tâm sinh lư. Một số
các ngành nghề và lĩnh vực chuyên môn khác
th́ dựa trên khả năng tạo ra “sản phẩm” để
phân biệt tuổi tác. Một nhà phê b́nh nghệ
thuật Mỹ, Heather Atkins, đă cho rằng Monet,
Picasso… là những người trẻ măi trong màu
sắc; Sinatra, Brahms, Stravinsky… là những
người trẻ măi trong âm thanh. Tuy rằng,
trong một thế giới khái niệm mang đầy tính
chủ quan và tương đối về tuổi trẻ như thế,
nhưng khi nói đến tuổi trẻ, không ai có thể
đảo ngược thời gian hay chỉ đơn giản căn cứ
trên “khả năng tạo ra sản phẩm” để cho rằng
Nguyễn Trăi “trẻ” hơn Nguyễn Du v́ “B́nh Ngô
đại cáo” xốc nổi hơn Đoạn trường tân
thanh (!)
Trong một vài bài viết trước đây, người viết
bài nầy đă có dịp nhắc lại một vài quan niệm
điển h́nh về tuổi tác trong truyền thống văn
hóa và xă hội Việt Nam. Theo quan niệm tương
đối phổ biến nhất th́ một đời người được
chia ra làm 4 giai đoạn: (1) Thiếu niên, (2)
thanh niên, (3) trung niên và (4) lăo niên.
Khi nói đến tuổi trẻ, nếu nhấn mạnh đến vai
tṛ kế thừa và chuyển tiếp, người ta thường
đề cập đến tuổi thiếu niên và thanh niên.
Nhưng để nhấn mạnh vai tṛ năng động và
trách nhiệm với xă hội, người ta nói đến
tuổi thanh niên và trung niên. Trong đó,
trung niên là một thế hệ bắc cầu (the bridge
generation) giữa hai thế hệ già và trẻ. Thế
hệ bắc cầu giúp làm gạch nối thu hẹp sự khác
biệt giữa hai thế hệ già và trẻ hay thế hệ
đàn anh và thế hệ đàn em.
H́nh ảnh "thanh thiếu niên" tượng trưng cho
mầm non tươi mát, sức sống tràn đầy và sự kế
thừa đầy hy vọng. Trong hoàn cảnh thực tế
của Việt Nam sau chiến tranh, cuộc chiến 30
năm (1945-1975) là cái mốc lịch sử tiêu biểu
để những nhà xă hội học và tâm lư học phân
chia thế hệ. Có thể nói những người Việt Nam
đang sống có 4 thế hệ: (1) Thế hệ trước
chiến tranh Việt Nam (Pre-Vietnam War
generation), (2) thế hệ chiến tranh Việt Nam
(Vietnam War generation), (3) thế hệ sau
chiến tranh Việt Nam (Post-Vietnam War
generation) và (4) thế hệ ấu nhi gồm những
trẻ em từ sơ sinh đến lứa tuổi tiểu học.
Thế hệ sau chiến tranh Việt Nam là một thế
hệ điển h́nh cho tuổi trẻ Việt Nam hiện đại.
Đó là tầng lớp thanh thiếu niên nam nữ sinh
ra sau 1975. Tuổi trung b́nh từ 10 cho đến
30. Thế hệ đàn anh đang lũ lượt từ giă những
vai tṛ then chốt trong cơ chế lănh đạo và
quản lư xă hội và thế hệ đàn em – thế hệ
tuổi trẻ Việt Nam – lần lượt thay thế.
Sự kế thừa và chuyển tiếp giữa hai thế hệ
tại các nước Âu Mỹ cũng như ở nước ta, đều
gặp phải những “trở ngại mới phát sinh”
(unprecedented disadvantages) mà những biểu
hiện thường thấy nhất là:
-
Tinh thần bảo thủ
của thế hệ già dựa trên những kinh
nghiệm cũ mà ḿnh đă có xung đột với
khuynh hướng cấp tiến của thế hệ trẻ dựa
trên sự t́m ṭi, khai phá mà ḿnh đang
phấn đấu vươn tới.
-
Thế hệ già khư khư
bám chặt vào địa vị và quyền lực, trong
khi thế hệ trẻ cần có điều kiện và môi
trường để sử dụng năng lực và thể hiện
lư tưởng của ḿnh.
-
Thế hệ già không
bắt kịp với tốc độ càng ngày càng nhanh
đến chóng mặt của của những tiến bộ khoa
học, kỹ thuật; trong khi thế hệ trẻ đang
vật lộn và nắm bắt để áp dụng một cách
hữu hiệu những tiến bộ nầy. Sự tụt hậu
và đương đầu trước hiện thực mang tính
thời đại giữa hai lứa tuổi tạo ra một
khoảng cách (hay xung đột) giữa hai thế
hệ già và trẻ là hậu quả tất yếu.
-
Nếu sự xung đột
thế hệ thiếu một mẫu số chung để hóa
giải, thế hệ trẻ và thế hệ già sẽ dẫn
nhau đến sự khủng hoảng tâm lư mà tác
động tiêu cực và nghiêm trọng nhất là sự
chối bỏ, loại trừ nhau giữa hai thế hệ.
Ngoài những hiện tượng
tiêu cực mang tính chất chung và phổ biến
trên đây, mối tương quan giữa tuổi già và
tuổi trẻ Việt Nam đương đại c̣n mang thêm
gánh nặng của thời cuộc, kinh tế và địa lư.
Về mặt thời cuộc, lịch sử chiến tranh đă để
lại những dấu vết khắc nghiệt trong tâm hồn
và trên thể xác Việt Nam. Thế hệ già – thế
hệ đàn anh – đă sinh ra và lớn lên trong
chinh chiến; trong khi thế hệ đàn em sinh ra
và lớn lên giữa ḥa b́nh. Những ám ảnh kinh
hoàng, những giá trị nhân văn bị găy đổ,
những hận thù núp bóng dưới nhân danh… đă
thiêu đốt thế hệ đàn anh nhạt dần hay chẳng
c̣n dấu vết trong tâm thức thế hệ đàn em.
Lối nh́n khác nhau về quá khứ sẽ mang theo
phản ứng và cách hành xử khác nhau trong
hiện tại và hướng nh́n tương lai.
Nền kinh tế suy yếu và tụt dốc sau cuộc
chiến đă kéo theo những tệ nạn xă hội đă
trực tiếp hay gián tiếp tạo ra sự thất vọng
và hoài nghi cho thế hệ đàn em khi nh́n về
thế hệ đàn anh.
Những suy nghĩ xót xa về sự yếu kém đă tạo
ra mặc cảm tự ty cho tuổi trẻ khi tương giao
và tiếp cận với các dân tộc và các nước láng
giềng cũng như cộng đồng thế giới. Tuổi trẻ
không t́m ra một sự kế thừa mang ư nghĩa
tích cực và đầy thuyết phục từ phía cha anh
ḿnh.
Tuổi trẻ Phật tử Việt Nam
Tín đồ của một tôn giáo trước hết là một
người công dân của một xứ sở nào đó. Tuổi
trẻ Phật tử (TTPT) Việt Nam là một người dân
Việt trẻ tuổi có tôn giáo là đạo Phật đang
lớn lên trên xứ ḿnh hay xứ người. Người
tuổi trẻ Phật tử Việt Nam từ căn bản là một
thành viên của dân tộc; cùng thừa hưởng hay
chịu đựng những vinh quang và cay đắng chung
với cộng đồng dân tộc. Bên cạnh việc mang
đầy đủ yếu tính của một công dân b́nh thường,
người TTPT c̣n có thêm một đời sống tâm linh,
một đức tin tôn giáo, một sự gắn bó và hướng
về nếp nghĩ, thái độ, lối sống của một người
theo đạo Phật.
Với sự vắng bóng của mọi h́nh thức tôn giáo
theo nguyên lư giáo dục trong nhà trường xă
hội chủ nghĩa, TTPT tại quê nhà t́m đến với
đạo Phật thông qua 3 nguồn suối chính: (1)
Truyền thống gia đ́nh; (2) bạn bè, tu sĩ và
chùa chiền tự viện; (3) tự ḿnh t́m hiểu và
học hỏi qua sách vở và môi trường truyền
thông. Động lực làm cho tuổi trẻ t́m đến với
tôn giáo là nhu cầu của đời sống tâm linh.
Đấy là một hiện tượng b́nh thường của một
đời sống toàn diện. Một đời sống thể chất
linh động cần sự hỗ trợ vô h́nh, nhưng không
kém về sức mạnh, của nếp sống tinh thần.
Theo nhà tâm lư học danh tiếng Erik Erikson
th́ 95 phần trăm những nhà khoa học và những
thiên tài của nhân loại có đời sống tôn giáo
rất hài ḥa với đời sống nghiệp vụ b́nh
thường. Ngay Karl Marx và Friedrich Engels
xuất thân cũng là những người theo tín lư
tôn giáo Cơ Đốc.
TTPT tại quê nhà cũng như ở hải ngoại t́m
đến đạo Phật bằng một sức mạnh tinh thần
dũng mănh và tự nguyện hơn bao giờ hết v́ cả
hai xă hội trong cũng như ngoài nước trong
ba thập niên qua đều là những vùng đất
“khó”; không phải là những vùng đất màu mỡ
cho mầm Phật giáo bén rể, đâm chồi. So với
thế hệ đàn anh, TTPT giữ vững được niềm tin
tôn giáo, hướng về Tam Bảo trong những điều
kiện xă hội, chính trị và kinh tế muôn vàn
khó khăn hơn. Bởi vậy, các em là những viên
ngọc quư mà thế hệ đàn anh cần phải trân
trọng và đánh giá đúng mức để nuôi dưỡng và
phát huy trên hướng về tương lai của Đạo
Pháp.
Đồng thời với TTPT nói chung, Gia đ́nh Phật
tử (GĐPT) Việt Nam là một tổ chức Tuổi trẻ
Phật Tử thuần túy mà không một giáo hội Phật
giáo nước nào ngoài Việt Nam đang có.
GĐPT được thành lập năm 1943, qua các danh
xưng như Đoàn Đồng ấu Phật tử, Phật học Đức
dục, Gia đ́nh Phật hóa Phổ.
Trong gần 60 năm qua, GĐPT Việt Nam trong
nước và ở hải ngoại đă trở thành một h́nh
ảnh sinh động, tươi mát, trẻ trung và đầy
hứa hẹn trong nhiều sinh hoạt của Phật giáo
Đại thừa. Đây là một tổ chức của TTPT Việt
Nam có một hệ thống cấu trúc chặt chẽ và
rộng khắp. GĐPT có cương lĩnh, đường lối
hoạt động phù hợp với tinh thần chung Phật
giáo. Căn bản là lấy châm ngôn Bi – Trí –
Dũng làm nền tảng sinh hoạt và dựa vào Năm
Điều Luật tượng trưng cho năm hạnh: Tinh
Tấn, Hỷ Xả, Thanh Tịnh, Trí Tuệ và Từ Bi của
đạo Phật. Hơn nửa thế kỷ qua, GĐPT Việt Nam
là h́nh ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ Phật tử
Việt Nam.
Trong quá khứ, dẫu qua những giai đoạn thăng
trầm và ngay cả trong những thời điểm dầu
sôi lửa bỏng nhất của Dân Tộc và Đạo Pháp
như biến cố chiến tranh, pháp nạn, tỵ nạn,
tản cư, tạm cư…, GĐPT vẫn luôn luôn có mặt
bên cạnh chư tôn đức và quư đạo hữu một cách
đoàn kết, trung kiên, sinh động và không
phân biệt sự dị đồng của chùa chiền hay bộ
phái. Thế nhưng trong ṿng 30 năm qua, từ
năm 1975 trở về sau, GĐPT đă và đang trải
qua một thời kỳ chao đảo nhất trong lịch sử
63 năm tổ chức và sinh hoạt.
Sự thách đố từ trong nội bộ giữa thời đại
mới
Trong số những vấn đề điển h́nh nhất mà TTPT
Việt Nam phải đương đầu trong thời đại mới
có những vấn đề truyền thừa từ thế hệ đàn
anh sang thế hệ đàn em. Có những vấn đề phát
sinh do sự phản ứng trước hoàn cảnh tạm
thời. Có những vấn đề do thời cuộc, địa lư
và nhân văn. Có những vấn đề nẩy mầm, mọc rễ
và ăn sâu (thâm căn cố đế) từ trong nội bộ.
Liên tiếp trong 6 bài viết dưới tiêu đề “Lá
thư huynh trưởng” đă đăng trên Tạp chí
Văn hoá Phật giáo và Website Phật Tử
Việt Nam (www.phattuvn.org),
người viết bài nầy đă có cơ hội tŕnh bày và
phân tích những thử thách và cơ hội đối với
TTPT Việt Nam. Nhưng đó chỉ mới là những
thách đố đến từ hoàn cảnh bên ngoài. Những
thử thách đến từ bên trong mới là điều
nghiêm trọng đáng nói trong lúc nầy. Đây là
một thời điểm quá tầm chờ đợi bởi v́ thế hệ
đàn anh hầu hết đang bước vào lứa tuổi sáu,
bảy mươi và thế hệ đàn em đang mạnh mẽ bước
vào đời để nhận lấy trách nhiệm thay cho thế
hệ đàn anh. Nếu sự kế thừa chỉ là phân hóa
và xung đột; nếu gia tài truyền thống về mặt
tổ chức lâm vào cảnh “nhất giang lưỡng
quốc”, một Giáo hội Phật giáo Việt Nam bị
phân chia ra hai hay nhiều phe phái… th́
TTPT không vay, không tạo mà lại thành con
nợ của tương lai.
Những vấn đề đến từ bên trong gây xung đột
và phân hóa như thế, có thể coi như là “Pháp
nạn tự thân”.
Trong lịch sử 25 thế kỷ, đạo Phật đă trải
qua nhiều thời kỳ hưng thịnh và thoái trào.
Có những triều đại hoàng kim Phật giáo như
thời vua A Dục (268-232 trước kỷ nguyên).
Đạo Phật không những trở thành quốc giáo mà
đạo lư nhà Phật c̣n trở thành quốc sách trị
nước an dân. Triều đại A Dục đánh dấu bước
chuyển ḿnh trọng đại của Phật giáo. Từ một
tôn giáo giới hạn trong vùng lưu vực sông
Hằng, xứ Ấn Độ, đă mạnh mẽ vươn lên thành
một tôn giáo hoàn vũ.
Ngược lại, cũng có những triều đại Phật giáo
bị bức hại tang thương. Như trong triều đại
Sunga, vơ thần Bồ Sa Mạt Đa La (Pusimitra)
cướp ngôi lên làm vua đă ra lệnh phá huỷ
chùa chiền, tu viện, tàn sát chư tăng và
treo giải thưởng 100 đồng tiền vàng cho ai
lấy được một cái đầu của một nhà sư. Đây là
pháp nạn lần thứ nhất của Phật giáo Ấn Độ,
xẩy ra vào thế kỷ thứ 2 trước kỷ nguyên.
Tiếp theo những triều đại Bà La Môn và Hồi
giáo giữ vai tṛ ngự trị, đạo Phật đă bị mai
một dần ngay trên xứ Phật. Đánh giá lại thời
kỳ suy yếu nhất của đạo Phật tại xứ Ấn Độ,
giáo sư chuyên khoa Phật giáo Koichi
Shinohara, đại học Berkeley, nhận định rằng:
“Sự suy yếu của đạo Phật tại Ấn Độ bắt
nguồn từ sự suy thoái phẩm chất từ bên
trong. Số người xuất gia không có lư tưởng
giác ngộ, độ sanh mà chỉ v́ đời sống cửa
thiền đương thời dồi dào; tăng sĩ được trọng
vọng làm cho tăng già càng ngày càng bị hủ
hóa. Tại thành Vương Thị (Pàtaliputta), tăng
chúng suốt 7 năm không hề có lễ Bố Tát. Đời
sống tu viện phân chia giai cấp. Tăng già
phân hóa thành phe nầy chống báng phe kia.
Mới nh́n qua th́ ngỡ như chẳng có ǵ quan
trọng. Nhưng nếu nh́n suốt ḍng lịch sử th́
đó là pháp nạn tự thân, “trùng sư tử ăn thịt
sư tử”, người đồng đạo xa lánh và từ bỏ
nhau. Cả hai phía xung đột đều nhân danh
chánh pháp và kêu gọi hoằng dương chánh
pháp; nhưng thực chất là tự biến thành ngọn
lửa thiêu hủy niềm tin Tam Bảo trong cùng
tận đáy ḷng người. Pháp nạn đến từ bên
ngoài có thể gây khó khăn cho việc sinh hoạt
Phật sự qua những năm tháng, nhưng pháp nạn
đến từ bên trong có khả năng làm suy yếu
tinh thần, phá hủy đức tin cho cả thế hệ.
Pháp nạn đến từ bên ngoài muôn lần dễ chữa
hơn pháp nạn đến từ bên trong.”
Tuy lịch sử không bao giờ có sự lặp lại hoàn
toàn giống nhau, nhưng những bài học lịch sử
giá trị thường biểu hiện nguyên nhân và hậu
quả tương tự như nhau. Người Phật tử rất xót
xa trước hiện trạng quư tăng ni, Phật tử
phân hóa tại quê nhà và trên quê người. Tuy
giới Phật tử thuần thành, kể cả người viết
bài nầy, suốt 30 năm qua đă từng an ủi rằng:
“Đạo Phật không có phân hóa mà chỉ có những
người theo đạo Phật phân hóa. Chư tôn đức là
những bậc cao tăng thạc đức nên các ngài sẽ
tự t́m ra phương hóa giải giữa phía nầy,
phía nọ, như trăm ḍng sông, ngh́n con suối
khác nhau rồi cũng sẽ chảy về chung ḍng
trong biển mẹ.” Nhưng thực tế đă và đang
nói lên rằng, đấy chỉ là thi ca, là triết
lư, là ước mơ chứ chưa phải là hiện thực!
Tôn giáo không phải chỉ đơn thuần là niềm
tin như giữa cuộc đời thường mà phải có đức
tin vững chắc làm chỗ dựa cho đời sống tâm
linh. Bởi vậy, một tổ chức đời sống tâm linh
ổn định đ̣i hỏi các cấp chức sắc lănh đạo
tinh thần phải có ít nhất là một hệ thống
lănh đạo thống nhất về mặt cấu trúc và nhất
quán về đường lối. Lănh đạo là cầm cương, là
làm chủ một con đường, một phương hướng rạch
ṛi và cụ thể. Một nước có cùng lúc hai vua,
hai triều đ́nh là nước loạn. Một tổ chức có
hai hệ thống đầu năo song hành là một tổ
chức chỉ có giá trị tượng trưng mà không có
thực quyền, thực dụng.
TTPT Việt Nam lớn lên trong gia đ́nh có
truyền thống Phật giáo bỗng khám phá ra
rằng: Có “chùa ta”, “chùa họ”; có “thầy
ḿnh”, “thầy chúng nó”, có đạo Phật của phe
nầy là đúng đắn, đạo Phật của phe kia là sai
lầm… Với tâm hồn măng non như tờ giấy trắng,
thế hệ cha anh đă làm vẩn đục nguồn suối
tinh thần tươi mát và trong sáng của các em
v́ phải chọn lựa chùa nầy hay chùa nọ, nếu
không sẽ bị bơ vơ trước ngă ba đường.
Đâu là nguyên nhân xa và nguyên nhân gần của
t́nh trạng phân hóa nầy? Nếu có chăng một sự
phân ranh như thế th́ lỗi tại ai? Hẳn nhiên
là không một người Phật tử xuất gia hay tại
gia nào lại muốn có một sự phân ranh như thế
cả. Đối với một người Phật tử b́nh thường,
phải chọn lựa phía nầy hay phía nọ; theo
thầy nầy mà không theo thầy kia là một việc
làm bất đắc dĩ, một cố gắng đi t́m trong
thất vọng.
Nếu chúng ta tiếp tục “truy nguyên” để t́m
cho ra nguyên nhân đầu tiên của cái “khổ đế”
nầy th́ sẽ lần lượt lên đến quư thầy, chư
tôn đức. Và ở bậc nầy, chắc hẳn kẻ đi t́m
nguyên nhân sẽ thấy được rằng, quư thầy đă
từ bỏ tất cả công danh, tham luyến đời
thường để xuất gia tu hành mong cầu giác ngộ
th́ sẽ không có lư do nào muốn nh́n thấy một
h́nh ảnh Phật giáo rạn nứt cả. Hăy thắp đuốc
lên, tiếp tục đi t́m nguyên nhân của sự phân
hóa. Đi nữa. Đi tới Pháp bảo, Phật bảo và sẽ
đi đến suối nguồn an lạc của đạo Phật. Chúng
ta lại càng không thấy một chút rạn nứt;
không t́m ra một mảy may dao động.
Nói như đức Lạt Ma Đề Văn xứ Tây Tạng:
“Đạo lành vốn không xung đột, không phân
ranh giới con người hay hoàn cảnh. Chỉ có sự
vô minh trong những phương tiện hành đạo mới
tạo ra phân hóa, xung đột mà thôi.”
Ai là “thủ phạm” của vô minh?
Thủ phạm nằm từ bên ngoài ta chăng?
Như trên đă nêu dẫn, đạo Phật đă trải qua
những thời kỳ Pháp nạn, có khi giải thưởng
cái đầu nhà sư lên đến cả trăm đồng tiền
vàng. Lịch sử nước ta đă ghi lại con đường
vinh quang và gập ghềnh của Phật giáo Việt
Nam. Đạo Phật cực thịnh thời Lư Trần; lúc
thịnh lúc suy thời Lê Nguyễn và phải đương
đầu với bao nhiêu sóng gió từ thời Pháp đô
hộ; bị lay động tận gốc rễ trong suốt cuộc
chiến tranh Việt Nam; và chao đảo trong suốt
thời hậu chiến. Nói tóm lại là Phật giáo
Việt Nam đă bị những thế lực từ bên ngoài
tác động và thách đố không ngừng. Nhưng thực
tế đă chứng minh rằng, Phật giáo Việt Nam
với tinh thần “cửa thiền rộng mở” nên bất cứ
khó khăn nào tác động từ bên ngoài, cùng lắm
cũng chỉ tạo ra khó khăn, trở ngại, chứ
không thể nào phá hủy được ngôi nhà Phật
giáo khi “tứ chúng đồng tu, tăng già hoà
hợp”. Phật giáo chỉ lâm vào t́nh trạng thoái
trào thực sự khi không hóa giải được những
xung đột từ bên trong… mà thôi!
TTPT Việt Nam, mà biểu hiện mặt nổi là GĐPT,
hiện nay đang nối dài sinh hoạt từ quê nhà
đến hải ngoại. Tổ chức và sinh hoạt của GĐPT
là sự phản ánh rơ nét nhất t́nh trạng của
Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước.
Nếu trong nước và ngoài nước đang có bao
nhiêu h́nh thức “giáo hội” Phật giáo th́ sẽ
kéo theo bấy nhiêu những “phiên bản Gia đ́nh
Phật tử” có lập trường và tổ chức theo một
tinh thần tương đương.
Xă hội Mỹ hiện nay được xem là một xă hội đa
chủng, không khéo là tạp chủng. Thế nhưng
cái bức tranh cẩn xà cừ (American Mosaic)
lại khá hài ḥa v́ có một hệ thống chính
quyền lănh đạo và chuyên viên quản lư tự do
và dân chủ. Trong một khung cảnh như thế,
những sự khác biệt của xă hội Mỹ thường được
ví von như một dĩa xà lách. Mỗi loại rau và
mỗi thứ gia vị trong cái dĩa rau phức tạp
nầy vừa xác định cái “ngă” của ḿnh là loại
rau ǵ, là mùi vị ǵ; thế nhưng cũng vừa thể
hiện tính “vô ngă”, hiến cái “tôi” riêng
biệt của ḿnh cho cái chung làm cho tất cả
trở thành và chỉ c̣n là một dĩa xà lách tươi
tắn, thơm ngon.
Cơ hội và thử thách của Tuổi trẻ Phật tử
Việt Nam chính là ở điểm then chốt nầy. Tách
ra khỏi ḍng triều chung th́ sẽ bị cô lập,
có khi bơ vơ không c̣n có môi trường và cơ
hội để thể hiện và thi thố tâm lực cùng tài
năng và lư tưởng của ḿnh. Nhưng nếu nhập
vào ḍng th́ phải chọn bờ bên nầy hay bờ bên
kia. Hay đấy cũng chỉ là một h́nh thức nói
khác của phe nhóm, phân tranh.
Sức mạnh, tác dụng và phản ứng của tuổi trẻ
thường biểu hiện phù hợp với từng giai đoạn
của sự phát triển tâm sinh lư qua từng độ
tuổi. Tuổi trẻ đầy lư tưởng. Tuổi trẻ hăng
say và hướng về khai phóng. Tuổi trẻ trong
sáng và nhiệt t́nh. Lư tưởng và nhiệt t́nh
sẽ rất dễ trở thành nguội lạnh khi phải đối
diện với sự cố chấp và cực đoan của thế hệ
đàn anh. Tuổi trẻ Việt Nam đang bước vào thế
kỷ 21. Một sự kiện chính trị quốc tế, một sự
cố xă hội tận bên trời Tây, một kiểu áo quần
thời trang vừa xuất hiện ở New York mới xẩy
ra đêm trước, tức khắc sáng hôm sau đă loan
xa trên mọi kênh rạch của môi trường truyền
thông quốc tế. Những huyền thoại về lănh
đạo, những cường điệu về t́nh h́nh và hoàn
cảnh, những hư cấu về anh hùng liệt nữ của
những thập niên quá khứ chẳng những không có
tác dụng mà c̣n phản tác dụng đối với thế hệ
trẻ hiện đại.
Tuổi trẻ trong thế kỷ nầy chỉ có thể bị
thuyết phục và chinh phục bằng sự thật, bằng
thành phẩm, bằng kết quả có thể kiểm chứng
được chứ không thể bằng những ấn tượng mơ
hồ, những lư thuyết suông, những hứa hẹn
rỗng tuếch được nữa. Nữ văn Mỹ da đen giải
Nobel của Mỹ, Tony Morrison, đă viết trong
tạp chí Psych Review số tháng 6/ 2005
rằng: “Thế hệ già hơn trong thế kỷ này
không lớn kịp với sự phát triển quá nhanh về
tri thức và tâm lư của thế hệ trẻ. Thế nhưng
thế hệ già vẫn nuôi ảo tưởng là ḿnh đang
dẫn đường đào tạo và giáo dục thành công thế
hệ trẻ nên người. Sự ‘ly-dị-thế-hệ’ bắt
nguồn từ đó.”
Văn hoá phương Đông thường nói đến “nguy
cơ”. Có nhận biết ḿnh đang ở thế nguy
nan mới t́m ra cơ hội. Thế nguy,
đồng nghĩa với sự thách thức đối với thế hệ
tuổi trẻ Phật tử hôm nay là sự phân hóa từ
bên trong; là sự nứt rạn từ trong cách nh́n
và lối nghĩ. Sự phân hóa và rạn nứt đó là
tiền đề của nhiều vấn đề xung đột từ thượng
tầng lănh đạo, đến trung tầng cấu trúc và hạ
tầng hành động.
Khi sự thách thức như một vấn nạn đang nằm
lù lù trước mắt, ai và làm sao đứng ra để
khai thông con đường học đạo, hành đạo và hộ
đạo của của người Phật tử? Làm sao để cùng
đứng một phía bờ bên nầy, lên đường vượt
ḍng sông, qua bờ giác ngộ bên kia?
Đạo Phật Việt Nam ngày nay, có Tam Bảo và
Phật tử kết thành chiếc bè hành thiện qua
sông vững chăi, nhưng bè hay thuyền th́
trước sau chỉ cần một bánh lái. Nếu có hai
hay nhiều bánh lái th́ sẽ sinh ra hiện tượng
cái tiến, cái lùi, cái buông chèo tại chỗ…
Trước những thế đi nghịch chiều nhau, thuyền
sẽ lạc hướng. Đối với Tuổi trẻ Phật tử,
thách thức của thời đại mới đang trực tiếp
đối diện với thế hệ trẻ. Nhưng cơ hội th́
phải trông chờ vào thế hệ đàn anh đang nắm
quyền hành xử trao cho.
Trong khung cảnh Phật giáo Việt Nam hiện
tại, mọi người đang đợi chờ thế hệ đàn anh
hành (đạo) hơn là thuyết (pháp). Bởi vậy,
bài bản, hội luận chỉ có giá trị gợi ư tượng
trưng. Điều quan trọng là thế hệ đàn anh
đang làm ǵ, nghĩ ǵ, hành động như thế nào
để trao lại cho thế hệ đàn em một sự kế thừa
xứng đáng với bề dày của đàn anh và ḷng tin
cậy của đàn em.
Thử thách và cơ hội
Trong gần nửa thế kỷ qua, Phật giáo Việt Nam
đă đối diện với nhiều thử thách và cơ hội.
Đối với những Phật tử vào hàng thế hệ tuổi
trên dưới 60 như kẻ viết bài nầy th́ đạo
Phật thường xuyên đứng trên trường đương đầu
và thử thách hơn là cơ hội. Trong t́nh h́nh
chiến tranh kéo dài, hầu như hết thảy chùa
chiền, tự viện tại các vùng nông thôn Việt
Nam đều bị thiêu hủy trong lửa đạn. Đa số
những vùng quê, đạo Phật biến thành h́nh
thức thờ cúng mê tín dị đoan. Năm 1954, khi
ḥa b́nh tạm thời lập lại, đạo Phật chưa đủ
thời gian để khôi phục lề lối tổ chức sinh
hoạt b́nh thường th́ phong trào tranh đấu
Phật giáo chống đàn áp tôn giáo đă dậy lên
năm 1963. Và liên tiếp những năm sau đó,
Phật giáo thường xuyên đối diện với sự bất
ổn do hoàn cảnh vừa khách quan, vừa chủ quan
tạo nên.
Từ năm 1975 trở về sau, Phật giáo lại phải
đương đầu với những thử thách mới, trong một
t́nh h́nh chính trị, xă hội và giáo dục mới.
Dẫu cho đứng từ bất cứ một góc độ nào th́
vẫn không ai phủ nhận được rằng, từ trong lư
thuyết cơ bản và sự hành xử cụ thể, không có
một chính quyền cộng sản nào trên thế giới
thừa nhận sinh hoạt tôn giáo như là một nhu
cầu tự nhiên và cần thiết của đời sống tâm
linh. Khởi từ lối nh́n tiêu cực của Marx về
tôn giáo như là: “Tiếng thở dài của con
người bị áp bức; thuốc phiện làm quần chúng
nghiện ngập…”, tôn giáo nói chung và
Phật giáo nói riêng không có chỗ đứng đương
nhiên và quan trọng trong hệ thống giáo dục
và đời sống xă hội công cộng. Bởi vậy, đă có
nhiều người đặt câu hỏi: “Có tự nhiên và
hợp lư chăng khi đ̣i hỏi một h́nh thức tự do
tôn giáo theo khái niệm của các nước phương
Tây trong một nước có hệ thống chính trị
theo đường lối cộng sản?”
Riêng t́nh h́nh Phật giáo Việt Nam th́ sự
hoài nghi giữa giới lănh đạo Phật giáo và
chính quyền đă có ngay sau năm 1975. Chỉ mấy
tháng sau ngày tiếp thu toàn miền Nam, dấu
hiệu phản kháng của hàng tu sĩ Phật giáo tại
Sài G̣n đă bắt đầu nổi lên. Mùa Phật Đản năm
1976 đă có một phái đoàn Phật tử Huế (thường
được mệnh danh là “Thủ đô Phật giáo” của
Việt Nam) do ông Nguyễn Hữu Vấn, trưởng ban
tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc B́nh Trị Thiên
cầm đầu vào Sài G̣n để “giải độc”. Di lụy
của mối quan hệ mang tính chất hoài nghi và
xung đột giữa chính quyền Việt Nam và một số
chư tăng ni cao cấp của Phật giáo là đưa đến
t́nh trạng có hai giáo hội Phật giáo song
hành tại Việt Nam: Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất chống chính quyền và Giáo hội
Phật giáo Việt Nam thân chính quyền. Tuổi
trẻ trong GĐPT Việt Nam cũng bị phân hóa làm
hai theo tinh thần của quư Thầy: Tổ chức
GĐPT có đăng kư và GĐPT không đăng kư!
Khuynh hướng chung của Phật tử là không muốn
dính dáng đến những vấn đề tranh chấp chính
trị, hoặc chống, hoặc theo. Người Phật tử ở
trong nước cũng như hải ngoại đă quá mỏi mệt
với gánh nặng đời thường. Họ chỉ mong t́m
được sự an lạc nơi suối nguồn Phật giáo.
Sự xung đột giữa chính quyền và giới lănh
đạo Giáo hội Phật giáo Thống nhất có thể hóa
giải trong tinh thần từ bi, trí tuệ của đạo
Phật và tinh thần ḥa giải, ḥa hợp dân tộc
của chính trị hay không?
Đối với người đang sống xa quê hương th́
t́nh h́nh sinh hoạt Phật giáo ở quê nhà
không rơ ràng v́ “có quá nhiều tin tức chứ
không phải v́ thiếu thông tin”. Nếu theo dơi
tin tức, mạng lưới internet, báo chí trong
và ngoài nước, người ta sẽ thấy cùng lúc Văn
pḥng Thông tin Phật giáo Quốc tế của ông Vơ
Văn Ái ở Paris thông báo và b́nh luận t́nh
trạng Phật giáo đang bị đàn áp ở quê nhà.
Trong khi đó, các nguồn tin khác đưa tin và
h́nh ảnh về xe hoa mừng Phật Đản ở Huế và Hà
Nội, lễ Phật Đản tổ chức rầm rộ khắp nước và
các phái đoàn Phật giáo Việt Nam tham dự
đông đảo hội thảo, lễ Phật đản tại Trung Hoa
và Thái Lan.
Thật ra, những hiện tượng mà hai khuynh
hướng “chống đối” hay “ủng hộ” đưa ra chẳng
có ǵ mới lạ hay đáng tin cậy đối với xă hội
tự do ở phương Tây. Điều then chốt mà mọi
người đều thấy rơ ràng là chuỗi “vướng mắc”
của thế quyền Việt Nam và giáo quyền Phật
giáo Việt Nam. Có vẻ như cả hai bên đều đang
cố t́nh không muốn nh́n rơ mặt nhau để t́m
ra một mẫu số chung làm căn bản giải quyết
vấn đề dị biệt.
Những “vướng mắc” về phía chính quyền Việt
Nam:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Đây là một
cái khung lănh đạo với mục đích phối hợp và
vận động các đoàn thể quần chúng, có vẻ như
không c̣n hợp thời trong thời đại mới. Mặt
trận Tổ quốc mang ư nghĩa một chiến dịch đấu
tranh cho đất nước là một danh xưng cường
điệu mang tính chiến lược và áp dụng chiến
thuật để vận động quần chúng trong thời
chiến. Trong giai đoạn xây dựng đất nước,
cần một sự phối hợp hài ḥa các thành viên
và tổ chức trong cộng đồng dân tộc. Khái
niệm “mặt trận” áp dụng cho các đoàn thể
quần chúng đă không c̣n hợp thời. Nếu đem áp
đặt thành cái khung lănh đạo tôn giáo, đặc
biệt là một tôn giáo đặt trên căn bản từ bi,
hỷ xả như đạo Phật mà lại đứng vào “mặt
trận” th́ lại càng dễ bị “dị ứng” hơn.
Đoàn ngũ hóa tôn giáo: Tôn giáo và
tín đồ không thể đứng trên và đứng ngoài đất
nước và dân tộc. Nhưng tôn giáo có một vị
thế riêng, đứng hàng thứ hai sau chính trị.
Việc chính quyền Việt Nam đơn giản đưa một
tôn giáo lâu đời của đất nước như đạo Phật
vào làm một thành viên của Mặt trận Tổ quốc
như các đoàn thể quần chúng thiếu niên,
thanh niên, phụ nữ, bô lăo… là một sự “đoàn
ngũ hóa” không hợp lư mà cũng chẳng hợp
t́nh.
Thế lực hóa tôn giáo: Hiện tượng
chính quyền chủ trương xây dựng một “cánh”
tôn giáo mạnh hơn, đông hơn để làm mờ đi
“cánh bất đồng” là một sách lược có tác
dụng, thích hợp với truyền thống văn hóa
làng xă cổ điển nhưng lại không thích hợp
với môi trường tôn giáo, nhất là tôn giáo
trong thời đại toàn cầu với môi trường
truyền thông hiện đại nầy. Phật giáo không
có đất đứng cho những “danh tăng” theo ư
muốn. Phật giáo Tây Tạng và đức Đạt Lai Lạt
Ma là một dẫn chứng điển h́nh cho phẩm cách
của một danh tăng. Trong t́nh h́nh “giáo hội
nầy, giáo hội nọ” th́ hầu hết những người
Phật tử có đạo tâm trở thành một tầng lớp
tín đồ thầm lặng. Khối Phật tử thầm lặng
nhưng chiếm đại đa số nầy sẽ cảm thấy xa lạ
và thất vọng với sự hiện diện đầy vẻ trang
trí, nặng phần tŕnh diễn của một số “chư
tôn đức” chưa có tuổi đạo (hạ lạp) rơ ràng
làm bảo chứng.
Các nhà lănh đạo Việt Nam và nhất là Ban Tôn
giáo Trung ương đều nhận rơ rằng, tôn giáo
cũng là một thế lực “chính trị tâm linh”.
Cũng như thế quyền, giáo quyền có hệ thống
lănh đạo, có quần chúng (phần tinh thần), có
lănh thổ (giáo phận), có quyền lực và có tài
sản riêng. Sức mạnh của tôn giáo có khi chế
ngự và làm lung lay cả thế quyền như thời
Trung Cổ và Khai Sáng ở châu Âu. Bởi vậy,
xin thành tâm kính đề nghị những người có
thẩm quyền nghiên cứu và tham khảo sâu rộng
hơn để có một quy chế tôn giáo hợp lư, hợp
t́nh và hợp với thời đại mới. Đấy có thể là
bước cơ bản nhất để thế quyền và giáo quyền
xóa dần những dị biệt, xích lại gần nhau hơn
trên một mẫu số chung là tôn trọng lẫn nhau,
cùng hướng về sự ổn định xă hội và phồn vinh
của đất nước.
Những “vướng mắc” về phía lănh đạo Phật giáo
Việt Nam:
Quy chế tự trị: Chư vị tăng ni lănh
đạo Phật giáo Việt Nam thường nhấn mạnh về
quy chế tự trị của tôn giáo. Nền tự trị đại
học và tự trị tôn giáo là mô thức lư tưởng
trong một xă hội tự do dân chủ. Tuy nhiên,
nội hàm tự trị không có nghĩa là đứng độc
lập bên ngoài xă hội. Hoa Kỳ là quốc gia có
quy chế tự do tín ngưỡng rộng răi nhất ở
phương Tây. Thế nhưng mọi hệ phái tôn giáo
đều phải hội đủ 3 tính chất pháp lư cơ bản:
(1) Giấy phép hoạt động, (2) hồ sơ khai thuế
và (3) tuân thủ quy chế an ninh. Không rơ
chính quyền và giáo quyền Việt Nam trong 30
năm qua đă có cơ hội nào để phân tích và
trao đổi về khái niệm tự trị trong sinh hoạt
tôn giáo hay chưa.
Lập trường khó có cơ hóa giải: Nghĩa
là chỉ có một thái độ cứng rắn hoặc chống
đối, hoặc ủng hộ đơn phương. Mặc dầu người
Phật tử nhận chân được rằng, bên cạnh thánh
tăng, cao tăng, danh tăng cũng có phàm tăng,
ác tăng, kiêu tăng; nhưng nói chung th́ quư
Thầy thuộc hàng cao tăng thạc đức, cho dẫu
độc lập hay nghiêng về một phía đều được
giới Phật tử nói chung kính ngưỡng như nhau.
Trong những năm qua, giới Phật tử đă bị mất
niềm vui để trông chờ thông điệp của quư
Thầy lănh đạo giáo hội vào dịp hai ngày lễ
lớn trong năm là Phật Đản và Vu Lan. Ngay cả
thời kỳ Phật giáo tranh đấu trong cảnh dầu
sôi lửa bỏng năm 1963, thông điệp của quư
Thầy cũng không mang lời lẽ đanh thép, nặng
nề và nội dung thể hiện một tinh thần quyết
đấu thiếu sự khoan ḥa như thế. Giới Phật tử
xót xa hỏi nhau, có chăng một cơ hội hóa
giải sự xung đột giữa Giáo hội PGVNTN và
chính quyền?
Thông tin hạn chế: Giới quan sát t́nh
h́nh Phật giáo tại quê nhà có một nhận định
tương tự như nhau về mặt thông tin nội bộ.
Đó là hiện tượng quư tăng ni trong Giáo hội
Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Việt Nam
Thống nhất thiếu sự liên lạc, tiếp cận để
t́m chung một giải pháp trong việc xây dựng
một Giáo hội Phật giáo Việt Nam Hợp nhất.
Một ngày c̣n hai Giáo hội là một ngày Đạo
Pháp c̣n bị phân hóa, kéo theo tuổi trẻ Phật
tử mất dần niềm tin vào thế hệ huynh trưởng,
quần chúng Phật tử mất chỗ dựa tinh thần vào
lư tưởng từ bi, hỷ xả, trí tuệ của chư lăo
tăng ni.
Kết luận
Đạo Phật là đạo hóa giải những khúc mắc
không phân biệt cho hết thảy quần sanh. Kỷ
niệm 30 năm ngày thống nhất đất nước, vấn đề
ḥa hợp, ḥa giải dân tộc được giới chức có
thẩm quyền nhắc đến. Mong rằng, tinh thần
ḥa hiếu đó sẽ sớm đến với Phật giáo và
chính quyền Việt Nam.
www.trankiemdoan.net
Doantran@sbcglobal.net