NH̀N VỀ TUỔI TRẺ PHẬT TỬ
VIỆT NAM TẠI HẢI NGOẠI
Trần Kiêm Đoàn

Nhận diện tuổi trẻ Việt Nam
Thế nào là khái niệm về tuổi trẻ trong văn hóa
Việt Nam?
Trong một khái niệm xă hội truyền thống và phổ
biến th́ một đời người được chia ra làm 4 giai
đoạn: Tuổi ấu, tuổi thơ, tuổi xanh, tuổi đá và
tuổi vàng; hay là tuổi ấu niên, tuổi thiếu niên,
tuổi thanh niên, tuổi trung niên và tuổi lăo
niên. Khi nói đến tuổi trẻ, người ta thường đề
cập đến tuổi thiếu niên và thanh niên. H́nh ảnh
"thanh thiếu niên" tượng trưng cho mầm non tươi
mát, sức sống tràn đầy và sự kế thừa đầy hy vọng.
Trong hoàn cảnh thực tế của Việt Nam sau chiến
tranh, cuộc chiến 30 năm (1945-1975) là cái mốc
lịch sử tiêu biểu để những nhà xă hội học và tâm
lư học phân chia thế hệ. Có thể nói những người
Việt Nam đang sống có 3 thế hệ: Thế hệ trước
Chiến Tranh Việt Nam (Pre-Vietnam War
generation, thế hệ CTVN (Vietnam War generation)
và thế hệ sau CTVN (Post-Vietnam War
generation).
Thế hệ sau CTVN là một thế hệ điển h́nh cho tuổi
trẻ Việt Nam hiện đại. Đó là tầng lớp thanh
thiếu niên Nam Nữ sinh ra sau 1975. Tuổi trung
b́nh từ 10 cho đến 30.
Tuổi trẻ Việt Nam nghĩ ǵ về vấn đề tôn giáo?
Cuộc chiến Việt Nam đă chấm dứt từ năm 1975. Đối
với tuổi trẻ măng non th́ chiến tranh Việt Nam
đă trở thành lịch sử. Các em học lịch sử và nghe
thế hệ cha ông kể chuyện lịch sử cuộc chiến Việt
Nam dù mang vẻ hào hùng, oanh liệt của phía
chiến thắng; hay bi thảm xót xa qua mắt nh́n của
phía thua trận, nhưng sự cảm nhận của thế hệ
măng non cũng giống như thế hệ đàn anh khi học
về lịch sử thời Quang Trung, Trịnh Nguyễn, Băi
Sậy, Ba Đ́nh... nghĩa là sự cố đă thành cố sự;
nhân vật đă thành tượng đài, diễn biến đă thành
lịch sử. Thế hệ thanh niên có thể chia sẻ với
thế hệ cha anh nhiều hơn, nhưng tựu trung cũng
là sự chia sẻ bằng tri thức, bằng cảm thông và
bằng cảm tính chứ không thể nào chia sẻ bằng "mặt
phong trần nắng rám mày râu..." được.
Theo ước lượng, có khoảng gần 2 triệu rưỡi người
Việt đang sống ở hải ngọai mà nơi tập trung đông
đảo nhất là Hoa Kỳ. Theo Thống Kê của Cục Thống
Kê Hoa Kỳ (Census Bureau) năm 2004 th́ có
1.422.528 người Việt sống tại Mỹ. Trong số đó có
49% dân số qua Mỹ sau năm 1980. Tuổi trung b́nh
là 25. Có đến 67% dân số tuổi dưới 30, nghĩa là
thuộc về thế hệ tuổi trẻ sinh sau 1975. Với độ
tuổi đó, cộng đồng người Việt hải ngọai được xem
là một trong những sắc dân "trẻ trung" nhất
trong số những nhóm nhân chủng được xem là "trẻ"
tại Hoa Kỳ hiện nay.
Với tỷ số tuổi trẻ rất cao trong cộng đồng người
Việt hải ngoại, chắc mọi người quan tâm đến đời
sống tâm linh, tôn giáo sẽ băn khoăn tự hỏi là
không rơ tỷ số lớp tuổi trẻ Việt Nam tại hải
ngoại quan tâm đến vấn đề tôn giáo là bao nhiêu?
Theo sự quan sát sinh hoạt thực tế th́ sự hiện
diện của tuổi trẻ trong các sinh hoạt chùa chiền
Phật sự quá mỏng, quá ít ỏi so với thế hệ đàn
anh. Theo thống kê của Bùi Nhân Huân trong luận
án tiến sĩ tâm lư học của ông nghiên cứu năm
2000 th́ chỉ có 19% tuổi trẻ dưới 30 trả lời là
"có quan tâm" đến tôn giáo và chỉ có một nửa
trong số ít ỏi đó trả lời là có tham gia thường
xuyên sinh họat tôn giáo.
Câu hỏi đang được đặt ra là nguyên nhân và hoàn
cảnh nào đă đưa đến sự hững hờ của của tuổi trẻ
đối với sinh hoạt tôn giáo nói chung và Phật
giáo nói riêng?
Với tuổi trẻ Việt Nam tại Hải ngọai th́ có 5
nguồn ảnh hưởng chính:
1. Hoàn cảnh lịch sử ở quê nhà: Sau năm 1975, sự
thống nhất đất nước đă mang hai miền Nam Bắc có
nền tảng tư duy khác biẹt lại với nhau. Miền Bắc,
đa số người dán được trang bị hay tiếp cận với
hệ thống triết học Mác-Lênin. Cái nh́n về tôn
giáo thay đổi. Do đó tuổi trẻ ít có cơ hội gần
gũi với các sinh hoạt tôn giáo và càng ngày càng
ít có cơ hội làm quen với những sinh hoạt liên
quan với đời sống tâm linh. Phần đông, tuổi trẻ
lớn lên trong không khí xa lạ với những h́nh
thức lư thuyết và lễ nghi tôn giáo.
2. Hoàn cảnh xă hội tại hải ngoại: Hầu hết các
quốc gia cưu mang người Việt di dân, mà Hoa Kỳ
đứng đầu, là những quốc gia có truyền thống sâu
đậm về đạo Chúa như đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa,
đạo Chính Thống... Đạo Phật chỉ có ảnh hưởng
giới hạn trong những cộng đồng sắc tộc, nhất là
sắc tộc Á Châu. Bên cạnh đó, đời sống vật chất,
kỹ nghệ, khoa học kỹ thuật đă giáo dục, đào tạo
tuổi trẻ thành những con người chuộng thực dụng,
phấn đấu nhằm đạt tới những giá trị vật chất cụ
thể, phục vụ trực tiếp các tiện nghi đời sống có
thể nắm bắt và cân đo đong đếm được.
3. Vai tṛ tự tại và tự giác của đạo Phật: Trái
hẳn với phưong thức truyền đạo và hành đạo xông
xáo, năng nổ và có khi áp đặt của một số tôn
giáo truyền thống Tây Phương, đạo Phật tuyệt đối
tôn trọng tự do, phát huy tinh thần tự nguyện và
nêu cao tinh thần tự giác của tín đồ. Hay nói
một cách gợi h́nh hơn th́ trong lúc các tôn giáo
khác tất bật xuôi ngược trên xa lộ th́ Phật giáo
vẫn lặng lẽ bước đi trên con đường... mây trắng.
Do đó, tuổi trẻ ít có cơ hội tiếp cận với Phật
giáo mà Phật giáo th́ chỉ nghiễm nhiên tự tại
không tự ḿnh t́m đến với tuổi trẻ.
4. Tâm lư sở đắc: Đây là tâm lư con đẻ của đời
sống kỹ nghệ và tham vọng chinh phục để sở đắc
và sống c̣n. "Chinh phục hay bị chinh phục"
(conquer or to be conquered) là triết lư sống
tích cực và thực dụng của Tây Phương. Bởi vậy
trong đời sống tâm linh, thế giới phương Tây cần
một thế lực để quy phục hay chinh phục. Đấy
chính là khái niệm nền tảng về một đấng Thượng
Đế ṭan năng để cầu xin thắng trận lúc xuất quân
(God Bless America) hay để xin ban ơn cứu rỗi
(God Bless You) cho từng thân phận yếu đuối của
mỗi con người. Trong cuộc chiến tranh với Iraq,
cả hai tay thống lĩnh hai lực lượng thù địch đều
cầu xin Thượng Đế toàn năng - Mighty God- ra tay
phù hộ cho phe ḿnh thắng trận. Trong lúc đó,
đạo Phật lại dựa trên cái chân tâm, Phật tánh,
sức mạnh nội tại của mỗi con người để "tự thắng
ḿnh là chiến công oanh liệt nhất". Hào khí và
tinh thần băo nổi của tuổi trẻ đang trên đường
t́m ṭi và khai phá tương lai, có được mấy người
dừng lại truy t́m bản lai diện mục của chính
ḿnh?
5. Những lư do nội bộ: Có thể nói là những người
Phật tử thuần thành trong thế hệ chiến tranh và
thế hê hậu chiến tranh Việt Nam đă sống trên
chuyến đ̣ dọc chao đảo của hoàn cảnh đất nước
chiến tranh kéo dài bên cạnh sự bất an của Đạo
Pháp. Phật giáo thường xuyên bị đặt ngay giữa
gọng kềm của lịch sử. Hết kháng chiến, đến lănh
thổ chia đôi. Bị áp bức và chống áp bức; bị đàn
áp và chống đàn áp. Thế nhưng pháp nạn lại kéo
dài bởi sự phân hóa ngay chính trong nội bộ như
lời đức Phật đă lưu tâm từ hơn 2500 năm trước: "Sư
tử trùng thực sư tử nhục". (Chỉ có loài sâu sinh
ra từ trong thân xác sư tử mới ăn thịt được sư
tử mà thôi! Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại cũng
giống như tuổi trẻ phương Tây nói chung, rất có
dị ứng về sự xung đột do sự mập mờ giữa hai biên
giới tôn giáo và chính trị. Tuổi trẻ thường lánh
xa với thái độ "đường ai nấy đi" khi phải đối
diện với sự xung đột của các thế lực lănh đạo
thiếu một lộ tŕnh rơ rệt, hay nói theo ngôn ngữ
thời thượng của tuổi trẻ là thiếu mất cái
"Agenda" cho hành động.
Phải chăng v́ những lư do nội bộ nầy mà cho đến
nay, sau 30 năm lịch sử của người Việt định cư ở
nước ngoài và cùng dài bằng lịch sử sinh hoạt
của GĐPT Việt Nam tại Hải ngoại đă không thống
nhất thành một khối như ước vọng của hàng Phật
tử xuất gia cũng như tại gia. Chỉ riêng tại Hoa
Kỳ, GĐPTVN đă có tổ chức sinh hoạt trên 19 tiểu
bang, gồm 58 đơn vị, với 6500 đoàn sinh và 350
huynh trưởng, chia làm 4 khu vực:
- Miền Tịnh Khiết: Đông Hoa Kỳ
- Miền Thiện Hoa: Bắc Hoa Kỳ
- Miền Quảng Đức: Nam Cali
- Miền Thiện Minh: Bắc Cali
Tuy nhiên sự phân hóa giữa các đơn vị và các
miền vẫn c̣n là một vấn đề tồn tại cho đến hôm
nay.
Nhận định về một hướng đi.
Thử tưởng tượng trong ṿng 20 năm trở lại, thế
hệ trước chiến tranh VN và thế hệ sinh ra,
trưởng thành trong chiến tranh Việt Nam sẽ đua
nhau về đất; sẽ thành người quá khứ. Thế hệ tuổi
trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh VN hôm
nay sẽ là thế hệ xương sống, chủ lực ngày mai.
Liệu sẽ có bao nhiêu "người Mỹ gốc Việt" c̣n nói
được tiếng Việt; bao nhiêu người c̣n tha thiết
đến chùa tu học, t́m hiểu văn hóa Việt Nam và
hành thiện theo tinh thần Phật giáo Việt Nam?
Người lạc quan tiên đoán "trời sinh trâu sinh cỏ";
kẻ bi quan cho rằng hiện tượng "hụt hậu" v́
không có một thế hệ kế thừa là điều khó tránh
khỏi nếu không có một hướng đi cho tuổi trẻ ngay
từ bây giờ.
Khi nghiên cứu về sự tương quan giữa tuổi trẻ,
tuổi già và tôn giáo, viện nghiên cứu Tâm Lư Xă
Hội Bahama Research ở Ventura, California đă xác
định kết quả thăm ḍ năm 2004 của họ rằng: 91%
những người già có một đời sống đạo hạnh và năng
nỗ tham gia sinh hoạt tôn giáo hằng tuần là
những người có quan tâm đến tôn giáo trong thời
tuổi trẻ của họ.
Đạo Phật và tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại cũng
không hẳn vượt ra ngoài những quy lệ và khuynh
hướng chung của xă hội đương thời. Tuy nhiên,
Phật giáo vẫn có những mặt thuận lợi và trở ngại
tạo nên sự thăng tiến gắn bó hay thoái bước xa
rời trong tương quan sinh hoạt giữa tuổi trẻ và
Đạo Pháp:
Thuận lợi:
- Đạo Phật có đầy đủ một hệ thống lư thuyết xă
hội, tâm lư, triết lư và đạo lư cao sâu. Đồng
thời những nguyên tắc tinh yếu để tu đạo và hành
đạo của Phật giáo cũng thể hiện tính khoa học
ứng dụng hợp thời vào đời sống thực dụng trong
nhiều mặt, đủ sức làm thoả măn những đầu óc đang
truy t́m tri thức đích thực. Càng ngày, lối sinh
hoạt từ bi, trí tuệ, không bao giờ chủ trương
bạo động hay mua chuộc kẻ khác của Phật giáo
càng ngày càng có ưu thế và được ưa chuộng trong
xă hội phương Tây năng động đến mức vọng động.
- Đạo Phật không đặt cơ bản trên sức mạnh của
thần quyền, thế quyền và giáo quyền mà dựa trên
tinh thần nhân bản. Đạo Phật lấy con người và
sức mạnh nội tại, tinh thần tự giác làm phương
tiện; lấy cái lơi tinh hoa từ chính con người là
chân tâm, là Phật tánh làm gốc nên rất phù hợp
với trào lưu tiến hoá của một thế giới đang
hướng về công bằng, tự do, dân chủ. Và đấy cũng
chính là lư tưởng của tuổi trẻ Việt Nam tại hải
ngoại.
- Thông qua kinh tạng, Phật giáo lư giải và tiến
đến chỗ hoá giải được sự xung đột của tâm linh
và sự bức xúc nội tại của một đời sống bị tha
hoá giữa giây chuyền máy móc. Thông qua quá
tŕnh tu học và thiền định, Phật giáo đă giúp
con người t́m được sự an lạc ngay chính giữa
gịng đời quay cuồng với hiện thực nầy. Đây
chính là nét hành tŕ nổi bật nhất trong quá
tŕnh tu học của Đạo Phật mang tính thuyết phục
và lôi cuốn mạnh mẽ tuổi trẻ phương Tây nói
chung và tuổi trẻ VN tại hải ngoại nói riêng.
Trở ngại:
- Phần đông, tuổi trẻ VN hải ngoại rất vô tư và
vô t́nh với tôn giáo nói chung và đạo Phật nói
riêng. Trong khi các tôn giáo bản xứ khác t́m đủ
mọi h́nh thức và phương tiện để hấp dẫn và lôi
cuốn tuổi trẻ, thậm chí, có nơi c̣n làm "cách
mạng" thay đổi luôn cả giai điệu u trầm của âm
nhạc tôn giáo để thay vào đó những bài ca, những
âm điệu mạnh mẽ hợp với tuổi trẻ hơn th́ Phật
giáo vẫn theo nếp cũ "xưa bày nay làm". Trên xứ
người, sinh hoạt Phật giáo vẫn tiếp tục duy tŕ
các h́nh thức lễ nghi, sinh họat, chẳng có ǵ
thay đổi lớn hay chuyển ḿnh theo hoàn cảnh mới.
Tuy hoàn cảnh xă hội nơi xứ người đổi khác,
phương tiện và điều kiện phục vụ sự tu học đa
dạng và phức tạp hơn, nhưng các họat động của
chùa chiền, tu viện vẫn mang đậm sắc thái cũ như
khi c̣n ở quê nhà. Bởi vậy, hiện trạng những đôi
mắt thờ ơ của tuổi trẻ trước tôn giáo nói chung
th́ đạo Phật nói riêng vẫn chưa có biện pháp
thay đổi và hội nhập một cách có hiệu quả trong
hoàn cảnh mới . Thế hệ trẻ thiếu mất sự gắn bó
và cảm nhận sâu xa trước những nghi lễ rườm rà;
cảm thấy hoài nghi và gần như lạc lơng với những
bài pháp thoại dài lê thê, đầy những danh từ cao
siêu kinh điển nhưng lại thiếu tác dụng thực
tiễn đối với cuộc sống đầy tranh đua trước mắt.
Về kinh điển nhật tụng, nếu so với các quốc gia
có sự hiện hữu của Phật Giáo lâu đời như Trung
Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Thái, Lào... th́ chỉ có
nội dung kinh sách tiếng Việt là thiếu sự thống
nhất, thiếu tính nhất quán trầm trọng nhất giữa
hai hệ thống ngôn ngữ Hán Việt và Thuần Việt.
Trong cùng một nghi thức tụng niệm thường lệ như
tịnh độ, cầu an, cầu siêu... mà từ phần Niêm
Hương cho đến phần Hồi Hướng có đoạn th́ thuần
Việt, đoạn th́ Hán Việt và lắm lúc cả "Hán Nôm
hoà điệu". Hiện tượng thiếu thống nhất đó quá
phổ biến trong nhiều buổi lễ tụng niệm của hầu
hết các đạo tràng, có quư cao tăng đại đức chủ
lễ ở chùa chiền và tu viện. Tại sao những Trường
Bộ Kinh, những tạng kinh điển đồ sộ vẫn có nhiều
cao tăng dịch mà các nghi thức thường lệ lại lâm
vào cảnh "Hán Việt bất nhất". Chẳng lẽ Phật Giáo
chỉ quan tâm đến những vấn đề cao siêu triết lư
mà thôi hay sao?
Nói tóm lại là khi nh́n về một hướng đi cho thế
trẻ Việt Nam tại Hải Ngoại trong vấn đề tiếp cận
với Phật giáo, chúng ta đă và đang thiếu một
cách trầm trọng ba sức mạnh làm nhân tố cho bất
cứ sinh hoạt tập thể nào. Đó là nhân lực, trí
lực và tài lực.
Nhân lực nói chung không thiếu, nhưng thiếu công
sức đầu tư cho tuổi trẻ. Những người đến sinh
hoạt thường xuyên với chùa chiền và tu viện hầu
hết là những bậc phụ huynh tuổi tác, kinh nghiệm
và sự hiểu biết về văn hóa nước người vốn đă
giới hạn, kinh nghiệm về tâm lư và đời sống của
giới trẻ trong xă hội mới của nước người lại
càng giới hạn hơn nên thực tế hầu như đang vắng
bóng những "chiếc cầu thế hệ" bắc qua hai bờ thế
hệ trẻ và già.
Trí lực nói chung của thế hệ cha anh về mặt gia
đ́nh tôn giáo khá phong phú. Nhưng đấy là trí
lực "tĩnh" chứ không phải lực "động", nghĩa là
trí lực chỉ để dùng suy nghĩ và lư luận chứ
không có tác dụng thực tế để áp dụng vào đời
sống nhằm hướng dẫn, giáo dục và tạo những tổ
chức hay phong trào hành động thực tiễn cho tuổi
trẻ. V́ vậy, có thể nói rằng đấy là khối trí lực
thiếu sự kế thừa và tụt hậu.
Tài lực cho thế hệ trẻ, cho con cái là ưu tiên
hàng đầu trong mỗi gia đ́nh Việt Nam. Nhưng
trong các sinh hoạt của chùa chiền và tu viện
người Việt, trừ những nơi có tổ chức đoàn thể
thanh thiếu niên tôn giáo hay các lớp dạy tiếng
Việt, vấn đề tài lực để chi ra cho thế hệ trẻ
rất hiếm khi trở thành mối quan tâm được ghi
nhận một cách chính thức trong các chương tŕnh
hay dự án hoạt động dài hạn thuần túy cho tuổi
trẻ.
Thế hệ trẻ Việt Nam tại hải ngọai là những con
tàu đă rời bến Mẹ để đi đến những phương trời
mới lạ. Cùng một lúc tuổi trẻ Việt trên xứ người
bị tác động bởi 3 sự dập vùi và níu kéo: Văn hóa
mới, môi trường tương quan xă hội mới và ngôn
ngữ mới. Nhiều thanh niên, học sinh và sinh viên
Việt bị lâm vào t́nh trạng "khủng hoảng bản sắc"
(identity crisis). Đấy là lúc mà người tuổi trẻ
cảm thấy ḿnh bị đứng bên lề cuộc sống, mất đi
một cảm giác thuộc về (a sense of belonging),
không thể nào điều chỉnh cho vừa vừa hay được
chấp nhận một cách tự nhiên vào môi trường Xă
Hội Mới ở xứ người mà cũng chẳng c̣n ḥa hợp và
thích nghi trọn vẹn vào môi trường Xă Hội Việt.
Trong trường hợp đó, nếu thiếu mất luôn một niềm
tin tôn giáo, một chỗ dựa tinh thần, một nếp
sống tâm linh, một sự hướng dẫn và nuố dưỡng
t́nh cảm của thế hệ đàn anh, người tuổi trẻ sẽ
trở thành một kẻ lưu vong trong chính tâm hồn
của ḿnh hiện tại và kẻ chối bỏ nguồn gốc, khước
từ niềm tin tôn giáo trong tương lai.
Thế hệ trẻ Việt Nam trên quê người là một đề tài
lớn, liên quan trực tiếp đến tương lai của cộng
đồng người Việt tại hải ngọai cần được phân tích
và thảo luận một cách rộng răi giữa 3 thế hệ:
Thế hệ cha anh, thế hệ con em và thế hệ bắt cầu.
Bài tham luận này chỉ mong làm nhiệm vụ đặt vấn
đề, nhận diện và phân tích vấn đề thế hệ trẻ
Việt Nam và Đạo Phật ở hải ngoại. Rất mong chư
tôn đức và quư thiện hữu tri thức quan tâm và
thường xuyên nh́n về tương lai, một tương lai
không xa mà chính thế hệ trẻ hôm nay sẽ ở vào vị
thế của chư vị ngày mai.
Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn
California, Hoa Kỳ tháng 3-2006
tôn giáo - phật giáo