THIỀN KIỂNG
Trần
Kiêm Đoàn

Người đứng ngoài nhìn vào, đó là một khu rừng nhỏ. Nét xa
xăm và cô tịch của dáng rừng tạo nên do những cành cổ mộc
mọc rải rác trên đá và trãi dài trên những lối đi. Nhìn rừng
cây, người ta dễ liên tưởng đến một ông tiên trên núi đi lạc
về đồng bằng. Mỗi gốc cây là một dáng xưa cổ tùng hoang dã.
Mỗi phiến đá như còn in dấu vết rêu phong sương tuyết của
rừng sâu.
Hoa kiểng là một thú chơi tao nhã, giàu tính nghệ thuật. Thế
giới trùng điệp của núi rừng thiên nhiên bạt ngàn được chắt
lọc kỹ càng, mang về tô điểm cho khung cảnh nhỏ riêng tư.
Núi đồi, khe suối, sông hồ hùng vĩ được thu nhỏ lại thành
một thế giới tượng trưng trong một giới hạn nào đó gọi là
giả sơn, hay là non bộ. Một hòn giả sơn có thể lớn như khu
vườn hay bé bằng nắm tay.
Tâm An đã cho thợ xây mô phỏng theo bức vẽ về một ngọn giả
sơn đã được dựng lên từ cả nghìn năm trước. Đó là hòn núi
giả lớn nhất trong lịch sử cây cảnh Việt Nam tên "Vạn tuế
Sơn" của Lý Thái Tông được chế tác năm Mậu Thìn, 1028. Theo
sử sách ghi lại, ngọn giả sơn ấy có kích thước cao hàng chục,
dài hàng trăm thước.
Theo Tâm An thì trong chòm họ hàng cây cảnh phương Đông,
Trung Hoa là xứ có lịch sử chơi hoa kiểng sớm nhất. Tiếng
Tàu gọi cây kiểng là "bồn tài" có nghĩa là cây trồng trong
khay, trong chậu. Nguồn gốc xa xưa của "bồn tài" là đầu óc
giàu tưởng tượng và bàn tay trồng tỉa khéo léo của giới cây
kiểng. Họ đã uốn nắn, cắt xén, tạo hình cây trồng trong chậu
thành hình con rồng lượn, con rắn cuốn, con voi nằm, con
ngựa phi, con hạc chầu, con công múa. Đến khi khuynh hướng
tự nhiên có chỗ dựa tri thức của Đạo học và tinh thần thoát
tục của Thiền tông thì khuynh hướng tạo hình của cây kiểng
cũng chuyển hướng. Thiền hướng con người trở về với thế giới
nhỏ trong cái tâm an lạc của chính mình. Nhà tạo hình cây
kiểng cũng muốn mô phỏng những cây đại thụ có cành lá rườm
rà tỏa chiết cả một vùng thu nhỏ lại như thu nhỏ một vầng
trăng trong đáy mắt.
Kiểng Tàu theo chân các thiền sư Trung Hoa và Nhật du nhập
vào xứ Phù Tang trong thời đại Kamakura, cuối thế kỷ 12
nhưng mãi đến năm thế kỷ sau thì nghệ thuật cây cảnh mới trở
thành một phần văn hóa của xứ nầy. Cùng một khái niệm "bồn
tài" của Tàu, nghệ thuật trồng cây kiểng trong chậu thành
"bon sai" của Nhật. Thiền đạo kết hợp với tinh thần võ sĩ
đạo của Nhật, nghệ thuật bonsai của Nhật không nhìn cây cảnh
qua hoa lá mà nhìn mỗi chậu kiểng như là một tác phẩm nghệ
thuật mang tính trầm tư và giải thoát đầy thiền vị. Nhà nghệ
sĩ bonsai cũng như nhà điêu khắc hay hội họa, họ tái tạo
thiên nhiên, diễn đạt chí hướng, tâm tư và tình cảm của mình
bằng chất liệu cây thật. Thiền sư Gukaido của Nhật nhận xét
rằng, nghệ sĩ bonsai mới nhập môn thì nhìn cây lá bằng Mắt.
Lên một cấp cao hơn nữa thì nhìn bằng khuynh hướng của Ý
Thức và "thấm" hơn thì nhìn bằng Tâm và cao hơn hết là nhìn
bằng Đạo.
Cây kiểng Trung Hoa thường đi với đá hay tượng, tháp, chùa
chiền trang trí kèm với cây. Cây kiểng Trung Hoa là ảnh để
ngắm, từ ngoàì nhìn vào. Nhưng bonsai là sự thể hiện của cái
nhìn từ bên trong nhìn ra. Bonsai tạo ra một thế giới tĩnh
lặng cổ sơ, một sự trang trọng của rừng già không vướng bận.
Mỗi cây bonsai đúng nghĩa tự nó có một linh hồn, không cần
phải dựa vào tượng đài hay điển tích để định nghĩa cho mình.
Dù xuất hiện dưới dáng mọc thẳng hiên ngang, dáng nghiêng
theo chiều gió, dáng cheo leo bên sườn non, dáng liễu rủ mai
gầy, dáng trơ vơ băng tuyết, dáng cô độc kiêu xa... thì
triết lý bonsai vẫn bàng bạc phẩm cách trung chính của người
quân tử trong Nho giáo và trong tinh thần võ sĩ đạo. Cây
kiểng bao giờ cũng ở thế tĩnh lặng giữa đời, không bao giờ
chồm về phía trước hay cành vươn ra như muốn ôm choàng lấy
người xem.
Khi nghệ thuật cây kiểng phát triển về miền Hoa Nam, nắng ấm
và sự xuề xòa cởi mở của thiên nhiên và con người miền Nam
góp phần vào nghệ thuật tạo hình cây cảnh. Nếu cây cảnh miền
Hoa Bắc diễn tả hết vẻ đẹp chấm phá của mây khói và sương
tuyết thì cây cảnh miền Hoa Nam diễn tả sức sống vừa gần gũi
với khái niệm đời thường; nhưng cũng đầy vẻ cổ kính và trang
đài của tạo vật.
Nghệ thuật cây cảnh miền Hoa Nam du nhập vào Việt Nam rất
sớm. Giới nghệ nhân cây cảnh xứ Việt không thoát ly dòng
lịch sử và thực tại của giang sơn đất nước mình. Như được un
đúc từ tâm lý chống đỡ truyền đời sự xâm thực của những
nguồn văn hóa ngoại lai và sự xâm lăng của những thế lực
phương xa tràn tới, cây kiểng Việt Nam vô hình chung mang
dáng vẻ chống đỡ nhiều hơn là chấm phá và thoát ly. Những
khuynh hướng tạo hình cây cảnh phổ biến và được ưa chuộng là
"Lấy nạng chống trời" (Độc trụ kình thiên), Ba cây chụm lại
thành hòn núi cao, Hòn vọng phu, Thác đổ, Bố con lên đường (Phụ
tử đăng trình)...
Mãn Nguyệt Am – nhà nhỏ đầy trăng – là tên mà Tâm An tự đặt
cho cái nhà nhỏ ở góc vườn cây cảnh phía Đông vừa mới hoàn
thành. Nghe tên, Phạm Xảo cười ngất và hỏi:
- Gặp đêm ba mươi không trăng sao thì gọi là gì?
Tâm An cười theo, thêm vào:
- Ơ! Thì gọi là U Minh Cốc!
Phạm Xảo vỗ tay khóai trá:
- Ba mươi trời tối: U Minh Cốc
Giữa tháng trăng đầy: Mãn Nguyệt Am.
Đến lượt Tâm An nắm tay Phạm Xảo cười hề hề nhưng không dấu
được nỗi xúc động tình cờ:
- Hai câu, hai ý, hai tên đối nhau chan chát. Hay quá là
hay, huynh tướng công ạ. Cái nhà như lòng người: Vui buồn,
sáng tối, gần xa, ấm lạnh... đều xuất phát ra từ một cõi
chung.
Cái tên Mãn Nguyệt Am dành cho ngôi nhà không phải phát xuất
từ ngẫu hứng mà từ hiện thực.
Với sở trường kinh doanh nghệ thuật cây cảnh dày dạn, Tâm An
đã sưu tầm được những loại cây kiểng quý hiếm cùng lúc với
việc dựng nhà chỉ trong vòng một tháng. Cái nhà thật ra chỉ
là những khung thủy tinh màu hay trong suốt được sản xuất và
đóng khung tại Phường Đúc. Tâm An nắm vững được kỹ thuật chế
tạo và pha màu thủy tinh của ngành đúc kim loại và nghề gốm
quanh Thành Lồi, Phường Đúc nên có khả năng hoàn toàn chủ
động sản xuất những tấm thủy tinh có độ dày và màu sắc theo
ý muốn.
Chủ ý của Tâm An là dựng một thiền thất theo kiểu "vô môn
quan", nhà mà chẳng có nhà. Tường và mái của thiền thất là
những mảnh thủy tinh có màu sắc chìm lẫn trong cây cỏ. Có
chỗ trong suốt để nhìn ra cây cảnh thiên nhiên rủ bóng quanh
nhà. Bước vào thiền thất, khách thoạt nhìn sẽ không có cảm
giác là mình đang bước vào nội thất mà thấy mình đang bước
vào một thế giới nhỏ. Những chậu kiểng được thiết trí theo
lối phát triển tự nhiên. Có chậu xếp sâu bên trong, có chậu
rủ lá bên ngoài. Những cây cổ mộc lâu năm, do những nghệ
nhân kỳ lão trực tiếp tự tay uốn tỉa tài tình theo đủ mọi
khuynh hướng cây cảnh. Những hàng cây lớn bé được xếp đặt
một cách khéo léo và tự nhiên rất gần với khu rừng đại lão.
Cây kiểng tạo ra một thế giới cổ kính. Một thế giới nhỏ nhắn
về kích thước nhưng trãi dài, mở rộng trong tầm nhìn và sâu
lắng trong cảm xúc.
Đêm nguyên tiêu, trăng đẹp như muốn mở cửa trút hết ánh sáng
xuống tràn mặt đất. Bốn người trong ngôi nhà có thể nghe
được cả tiếng thở của người kia nhưng khó thấy nét mặt của
nhau. Cây kiểng lọc trăng thành một rừng hoa với điểm sáng
chen bóng lá che khuất mặt người. Thầy Tiều nhận xét:
- Trăng đẹp quá và kiến trúc ngôi nhà khéo quá. Nhưng để làm
gì với ngôi nhà này?
Hơi chững lại trước câu hỏi gần như vô tâm của thầy Tiều,
Tâm An cố giải thích nhưng không tin lời nói mình sẽ có một
tác dụng nào khá hơn:
- Thì nhà thiền là để tu thiền chứ để làm gì nữa đâu, thưa
thầy.
Chẳng nhìn quanh ngôi nhà mới, mắt thầy Tiều hướng về một
cõi riêng từ trong dòng suy tưởng của thầy:
- Nhốt trăng trong lồng kiếng cũng như nuôi chim trong lồng
son; có bóng, có ảnh, nhưng không có hồn. Trăng thật đó mà
không phải là trăng. Chim thật đó mà không phải là là chim.
Trăng là trăng của muôn phương. Chim là chim của bầu trời tự
do. Thiền là hơi thở giao hòa với vũ trụ; thiền là cái tâm
nầy hoà quyện với đất trời... Tâm An dựng cái nhà cây kiểng
nầy giỏi lắm, đẹp lắm. Nếu chỉ vì nhà đẹp mà vào đây ngồi
thiền thì sẽ mất mạng không chừng...
Tâm An tròn mắt hỏi dồn:
- Thầy! Thưa thầy, thầy vừa nói ... vào đây ngồi thiền thì
sẽ mất mạng không chừng có nghĩa là... sao?
Thầy Tiều lại cười, tiếng cười đôn hậu làm Tâm An hơi yên
lòng. Thầy nói với giọng đùa vui:
- Hì! Hì! Nhà đẹp thế nầy mà rủ nhau vào đây ngồi xếp bàn,
nhắm mắt thì sẽ chẳng thấy gì; ngồi trong nhà đẹp mà chẳng
thấy thì có khác gì ngồi ngoài đường. Nếu mở mắt để nhìn
ngắm khu rừng cổ mộc hùng vĩ xinh đẹp nầy và bị thu hút vì
vẻ đẹp nhân tạo của nó thì lại nương theo cái giả để tìm cái
thật. Thiền là một cuộc hành trình gian nan đi tìm cái thật:
Cái thật của chính mình mà giới sính chữ gọi là "bản lai
diện mục" và cái thật trong chính mình mà hàng sính đạo gọi
là "minh tâm kiến tánh". Ngõ vào thiền không phải trụ ở nhà
thiền mà có muôn vạn nẽo. Cửa thiền đúng nghĩa là chiếc
thuyền làm bằng cái tâm không rỗng lặng. Buồm là sự chuyên
tâm thiền định. Gió là năng lực tu tiến riêng của mỗi con
người. Thuyền đi nhanh hay chậm, có về bến được hay không
còn tùy vào cả ba sức mạnh tổng hợp là thuyền, buồm và gió.
Thuyền có nhẹ nhàng lướt sóng hay bị sóng ngầm nước xoáy
cuốn hút giữa chừng, buồm có giương lên đón gió và gió có
thổi hay không... Tâm An quý hữu à, nhà nầy đẹp lắm, nhưng
chỉ là bến đợi nghỉ chân thôi. Nó không phải là thuyền,
không phải buồm mà cũng chẳng phải là gió.
- Thầy ví von hay lắm, nhưng thầy chưa nói rõ vì sao lại có
thể bị "mất mạng" trong ngôi nhà nầy?
- Mất mạng không phải là vấn đề chết sống. Mất mạng đối với
một nhà sư tu thiền là ngồi trên thuyền đang trôi mà tự cho
rằng mình đã tới bến. Nếu lại được trú trong ngôi nhà đẹp đẽ
này nữa thì rất dễ bị khung cảnh rừng cây kiểng cổ mộc trang
trí quanh đây tạo ra một cảm giác núi rừng kỳ tú ảo tưởng.
Cảnh giả, sư đang tu thiền mà cứ ngỡ mình đắc đạo sẽ thuyết
giảng những điều đang tìm bằng cái giọng chí tôn của hàng
giác ngộ. Ngộ lắm! Quý hữu ạ. Cũng thế, sự mất mạng đối với
một người tu thiền là mang ảo tưởng mình đã đạt được chân
thiền chỉ bằng khối kiến thức về thiền đã học trong sách vở.
Nếu người đó cũng được ngồi trong ngôi nhà đẹp đẽ nầy nữa để
tu thiền thì sẽ lạc vì thiền sẽ trở thành ly thánh tửu. Rượu
thánh làm say men thoát tục chứ thiền giả chưa có công phu
thiền định thì lấy gì để tự cứu rỗi chính mình. Từ đó, ngồi
trong nhà thiền để tìm đường giải thoát chẳng khác gì con
chim tìm bầu trời cao rộng trong chiếc lồng son.
Trần Kiêm Đoàn
( Trích từ truyện dài "TU BỤI", sắp xuất bản)
tôn giáo - phật giáo