AO LÀNH TRONG BIỂN ĐẠO
Trần
Kiêm Đoàn

Cuộc sống có những sự t́nh cờ rất lạ lùng và thú
vị. Đó là một thế giới hiện tượng giữa ta và
người, giữa “tâm” và “vật” trùng trùng kết hợp
và tác động lên nhau bất ngờ đến chóng mặt.
Nhưng rồi trong ḍng chảy triền miên của thời
gian, sự t́nh cờ lại tạo ra một trật tự, một
hướng mới dường như có sự sắp đặt vô h́nh nào đó.
Có những tôn giáo gọi trật tự mới nầy là “ư Trời”,
là “thiên mệnh”, là sản phẩm của một quyền năng
thiêng liêng và cao cả nào đó. Riêng Phật giáo –
và cũng chỉ có Phật giáo – mới giải thích mọi sự
hợp lư và phi lư của thế giới, của kiếp người
một cách tổng quát, linh động và chặt chẽ có thể
làm thỏa măn cho những đầu óc suy tư đơn giản và
phức tạp nhất.
Như 80 năm trước, khu chùa Kim Quang bây giờ là
vùng hoang phế đă có từ ngh́n năm qua nơi châu
Mỹ. Ba mươi năm trước không hề có bóng người
Việt Nam lai văng. Và trong những giấc mơ hoang
dại nhất, cũng không có một người Việt nào viếng
chùa hôm nay lại lẩn thẩn nghĩ rằng một ngày nào
đó ḿnh sẽ qua Mỹ và đến viếng một ngôi chùa
Việt có tên là Kim Quang – ngôi chùa Phật Giáo
Việt Nam đầu tiên trên đất Mỹ… ! Thế nhưng chúng
ta thật sự có mặt ở nơi nầy là do một chuỗi
duyên nghiệp trùng trùng tác tạo. C̣n có mặt với
nhau nơi vùng đất nầy, trên khuôn viên chùa nầy
là c̣n niềm vui, c̣n khả năng và cơ hội xây dựng
một tinh thần an tịnh. Hai mươi năm qua. Một
chút lắng ḷng nh́n lại…
Về với Kim Quang
Lần đầu đến chùa Kim Quang vào một ngày mùa Hè
năm 1985 không phải với mục đích lễ Phật mà
chúng tôi ghé chùa v́ mục đích… thuê nhà! Đang
đi học ở Sac-State, tôi muốn thuê một cái nhà
nhưng chẳng quen một người nào và cũng chẳng
biết vùng nào nên ở, vùng nào nên tránh giữa cái
thành phố Sacramento hoàn toàn xa lạ nầy. Đang
là sáng thứ Bảy, đi hoài chẳng biết đi đâu, tôi
nghĩ bụng rằng, cách hay nhất là cứ đến chùa xin
nhờ giúp. Trong đời sống văn hóa truyền thống
Việt Nam, dù hoàn cảnh có ly lọan và nhiễu
nhương đến mức nào, th́ mái chùa và thầy chùa
vẫn là khung cảnh và con người thường được xem
là ít bị nhiễm độc nhất. Mái chùa như một bàn
tay của mẹ hiền ôm con mà không phân biệt. Chùa
không vồn vă với kẻ quyền thế, giàu sang; mà
cũng chẳng lạnh lùng quay mặt với người cô thế,
nghèo nàn. Nếu trong cuộc đời thường, có chăng
hiện tượng ngược lại th́ sự khập khiểng không
phải tại ngôi chùa mà tại kẻ giữ chùa. Ông từ mở
và đóng cửa ngôi đền, anh linh ngôi đền không
làm việc đó.
Trong thời điểm năm 1986, Kim Quang là ngôi chùa
Phật Giáo Việt Nam duy nhất ở Sacramento, hầu
như ai cũng biết nên hỏi đường đến chùa không
khó.
Tôi đến chùa, thầy trụ tŕ đi vắng. Gia đ́nh
Phật Tử Kim Quang đang sinh họat. Tôi lặng người
nghe tiếng c̣i và tiếng hát quen thân của các em
vang lên từ phía sau sân chùa. Tâm lư tôn giáo
và sùng kính thường có một nơi trú ẩn sâu kín
nhất, đó là sự xúc cảm lắng đọng của tâm hồn.
“Sơ phát tâm” – sự dấn thân t́nh nguyện đầu tiên
– là một dấu ấn tâm linh một thời mà măi măi.
Nên sự vận động cải đạo hay bỏ đạo về sau v́ lợi
quyền hay tham vọng nhất thời là dấu hiệu suy
đồi của đức tin và trạng thái vô luân của tâm
thức. Người ta đến chùa và xa chùa một thời nào
đó tùy hoàn cảnh. Nhưng t́nh cảm thiêng liêng đă
mọc rễ từ trong vô thức – vùng vô thức không ai
thấy được – nhưng nó vẫn hiện diện đâu đó. Như
phút nầy, khi nghe các em hát, tiếng hát một
thời từ cơi vô thức trong tôi dấy lên, hoà với
tiếng hát hiện thực làm tôi sống lại. Chớp mắt
của quá khứ hiện về. Ai cũng có những chớp mắt
hoài niệm như thế trong những phút bất ngờ nhất.
Liên đoàn trưởng GĐPT là chị Ngô Thị Thu. Tôi
chờ cho đến hết buổi sinh hoạt để được trực tiếp
gặp chị. Tôi được sự hướng dẫn tận tâm để thuê
cho được một ngôi nhà ở vùng North Highlands và
gia đ́nh tôi định cư trên vùng đất nầy từ đó.
Trụ tŕ chùa Kim Quang là thầy Thích Thiện Tŕ.
Lần đầu được gặp Thầy, tôi không có một ấn tượng
sâu sắc như ḿnh mong ước. Dáng dấp nhẹ nhàng,
từ tốn, lịch thiệp nhưng toát ra một vẻ tự tin
và nghiêm khắc của Thầy làm người diện kiến lần
đầu cảm thấy kính nể, e dè hơn là gần gũi. Kinh
nghiệm đi thăm quư Thầy ở Huế, nhất là Thầy ở
các chùa nổi tiếng như Từ Hiếu, Từ Đàm, Châu Lâm,
Tây Thiên, Trà Am… là không nên đến gặp Thầy
trong các ngày Chủ Nhật hay trong các dịp vía
lớn, rằm, mồng một, v́ gặp Thầy để đảnh lễ là
chỉ được gặp h́nh tướng một nhà tu; chưa gặp
được một bậc tu hành trong thực tế đời thường.
Bởi vậy, tôi thường gặp Thầy Thiện Tŕ vào những
ngày giữa tuần để được lắng nghe hay có những
lần hạnh phúc hơn là được “song ẩm” những chén
trà đạo vị với Thầy.
Có một lần vào buổi chiều thứ Tư, tôi đang ngồi
uống trà với Thầy ở nhà tăng th́ có hai vợ chồng
người Mỹ đến thăm chùa. Họ ái ngại nh́n ngôi
chùa đă chịu nhiều sương nắng với vết dột trên
trần và hỏi đến việc trùng tu. Thầy cười hiền từ
và nói rằng: “Việc đời có tụ có tán. Khi gặp
duyên lành th́ chùa sẽ có ngày được xây dựng lại.”
Trong câu chuyện trà đàm sau đó, Alice và Robert
Meyers, tên cặp vợ chồng người Mỹ, hỏi về pháp
tự Thích Thiện Tŕ của Thầy có nghĩa là ǵ. Tôi
dịch “Thiện Tŕ” có nghĩa là “Compassion Lake”.
Thầy không đồng ư, nói rằng: “Thiện Tŕ là cái
Ao Lành, nói chi đến cái hồ cho lớn lao. Thầy
chỉ mong làm được cái Ao Lành trong Biển Đạo
mênh mông thôi…”
Cũng cả năm trường mới hiểu được Thầy. Bản chất
“giáo thụ” và nghệ sĩ nơi Thầy như h́nh với bóng.
Nhờ có chút ít vốn liếng chữ Hán và chữ Nôm của
những năm học ở Đại học Sư Phạm Huế, tôi trở
thành tâm đắc với Thầy trong những dịp luận bàn
thơ cổ. Có một lần Thầy và tôi uống hết gần 5
b́nh trà chỉ v́ bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc 4 câu
ngắn ngủi của Trương Kế.
Tương truyền, Trương Kế sau bao nhiêu năm trải
qua nhiều chặng đời vinh nhục thăng trầm với chữ
nghĩa khoa bảng. Một hôm du thuyền trên bến sông
Vân Kiều, trăn trở hoài không ngủ được, Trương
Kế ngâm hai câu thơ đối cảnh sinh t́nh:
Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên…
(Quạ kêu trăng lặn sương mờ,
Đèn chài gió sóng khơi bờ sầu dâng…)
Được hai câu th́ thơ bỗng chững lại, loay hoay
măi không t́m ra tứ thơ cho hai câu tiếp.
Vẫn theo tương truyền, động lực “gỡ bí” cho
Trương Kế sau khi làm được hai câu thơ đầu bị bí
là thầy tṛ sư cụ chùa Hàn Sơn. Sư cụ dạo quanh
hồ nơi sân chùa trong ánh trăng thượng huyền mới
chớm với chú tiểu đi theo. Sư cụ cũng “đối cảnh
sinh t́nh” nên ngẫu hứng ngâm:
Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán tợ ngân câu bán tợ cung…
(Mồng ba, mồng bốn trăng non,
Nửa cong câu bạc nửa tṛn cánh cung…)
Ngang đây th́ cũng như Trương Kế trên bến Phong
Kiều, sư cụ bí không làm tiếp được… Chú tiểu
theo hầu, cúi đầu thi lễ sư cụ và xin phép làm
nối thêm hai câu sau:
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đọan,
Bán trầm thủy để, bán huyền không
(Ngọc b́nh một mảnh chia chung
Nửa lưng đáy nước, nửa chừng trên không…)
Hai thầy tṛ sư cụ đă hoàn thành bài thơ tứ
tuyệt “Vọng Sơ Nguyệt”. Sư cụ ngâm tṛn bốn câu
với nỗi cảm khoái dâng trào đầy thi vị trong đêm
khuya, nên đă sai chú tiểu lên chùa thỉnh một
hồi đại hồng chung để cúng dường Tam Bảo. Tiếng
chuông lọt vào tai Trương Kế đang thao thức với
tâm trạng ḷng buồn, thơ cạn… Tiếng chuông như
điệu kèn đam mê sâu đắm thoát ra từ cơi thơ. Hồn
thơ của Trương Kế tưởng như đă lụi tàn trong nỗi
buồn “đối sầu miên” bỗng trỗi dậy. Bỗng đâu từ
ngoài thành Cô Tô, tiếng chuông chùa Hàn Sơn
ngân nga vọng lại. Ông lắng nghe tiếng chuông và
chợt tỉnh. Tiếng chuông nửa khuya vang lên rửa
sạch lớp bụi trần gian của tâm thức đầy tục lụy.
Cảm nhận giải thoát đến từ tiếng chuông. Tiếng
chuông đến từ vô ngă. Một đời bôn ba trên trường
khoa bảng của Trương Kế đă bị tiếng chuông cuốn
phăng vào quá khứ. Hiện hữu là một sự tỉnh thức:
Là tâm trạng thoát tục; là khách thuyền.
Nhà thơ bỗng cảm thấy tâm hồn lâng lâng như
thóat tục và làm tiếp hai câu sau:
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
(Thành Cô Tô, chùa Hàn Sơn
Chuông khuya lay động tâm hồn thiền nhân)
Tôi đọc lại những câu lục bát mà tôi đă dịch từ
thời sinh viên. Thầy trầm ngâm nhận xét: “Dịch
suông nhưng chưa chỉnh lắm.”
Câu chuyện xoay qua b́nh thơ mà điểm chính hôm
đó là “cái bí” của Trương Kế trên bến Phong Kiều
và Sư Cụ chùa Hàn Sơn. Theo Thầy th́ Trương Kế
bị bế tắc sau hai câu đầu là do cái tâm của thi
nhân c̣n đeo nặng nghiệp chướng của ḍng đời đầy
bi phẫn nên không thoát được. Trong lúc tôi th́
nhắm vào nghệ thuật thuần túy và nhận định rằng,
Trương Kế “bí” là v́ đă dùng hết tinh hoa của
ngôn ngữ thi ca khi ông điểm xuống một chữ
“thần” tuyệt tác, đó là chữ “miên”. Tôi lư luận
là “đối sầu” th́ xưa nay đă có nhiều người nói
trong thơ. Nhưng mà “đối sầu miên” th́ quả thật
là tuyệt bút nên nhà thơ đă ngất lịm trong thơ,
không c̣n đáng để nói nữa. Bước sang hai câu thơ
đầu của sư cụ chùa Hàn Sơn, theo Thầy th́ hai
câu của sư cụ tả cảnh trăng thượng huyền đă quá
hoàn chỉnh. Sau sự viên măn th́ chẳng c̣n ǵ để
nói nữa. Tôi lại xin phép không đồng ư với Thầy
về lư do “bí” của sư cụ. Tôi nhận xét hai câu
của sư cụ là hai câu thơ tả cảnh tầm thường.
Cuối sự tầm thường th́ thơ không c̣n bay xa được
nữa. Hai câu tuyệt bút trong bài “Vọng Sơ Nguyệt”
là hai câu sau của chú tiểu.
Đó là một buổi chiều thật ấm áp với Thầy. Khi về,
Thầy cho tôi mượn cuốn sách “Buddhism @ Zen in
Vietnam” viết bằng Anh ngữ của thầy Thích Thiên
Ân. Cuốn sách do Rev. Karuna Dharma tặng Thầy đề
ngày 20-11-1983. Trang đầu phía trong, dưới bài
thơ Xuân của Măn Giác Thiền Sư (1090), bằng
tiếng Hán và tiếng Anh, Thầy có ghi hai câu thơ
bằng tiếng Việt của Măn Giác Thiền Sư (thi sĩ
Huyền Không) một ngh́n năm sau:
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông.
Tôi vẫn c̣n giữ cuốn sách và không c̣n cơ hội
trả lại cho Thầy. Nhưng tôi sẽ “trả lại” bằng
những hoài niệm về Thầy qua những ḍng suy tư
không bao giờ phai cũ…
Ra đi…
Thầy ra đi vào lúc 8 giờ rưỡi tối ngày 31 tháng
7 năm 2003 ở tuổi 69. Những ngày tang lễ của
Thầy tại chùa Kim Quang chư Tăng và Phật tử tề
tựu về chùa luân phiên cầu nguyện và tiễn đưa.
Giữa cuộc đời thường nầy bao giờ cũng thế, những
h́nh thức quan chiêm lễ bái từ trái tim bao giờ
cũng có linh hồn và thấm thía bề sâu hơn là
những h́nh thức lễ nghi xưng tán rộn ràng trên
bề mặt. Những ngày cuối cùng của Thầy c̣n trên
mặt đất nầy, tôi cảm nhận sự tiếc thương và
tưởng nhớ “tâm truyền tâm” mà Thầy thường nói
thấm thía hơn là những ǵ có thể diễn đạt được.
Nhắc đến Thầy là nhắc đến cáo AO LÀNH khiêm cung
trong BIỂN ĐẠO. Cái AO như một giọt nước từ bi
trong biển đạo mênh mông vô cùng từ vô thủy đến
vô chung. Thầy đến và đi. Những giọt nước đầy và
cạn. Cuộc sống có rồi không. Cho nên, cái có lớn
lao và miên viễn nhất cho một kiếp người là CÓ
CÁI KHÔNG. Tranh đấu để có CÁI CÓ th́ hầu như ai
cũng có thể làm được. Nhưng cuộc chiến đấu để CÓ
CÁI KHÔNG là một cuộc chiến trường kỳ và gian
nan mà trên đường đi biết bao nhiêu người bỏ
cuộc. Bởi vậy, đức Phật dạy: “Kẻ thù số một là
chính ḿnh. Tự thắng ḿnh là chiến công oanh
liệt nhất!” Phải chăng những tháng năm dài nằm
trên giường bệnh là chặng đường có hồng ân Tam
Bảo độ tŕ để thử thách và chuẩn bị cho Thầy an
nhẫn trong CÁI KHÔNG đời thường để t́m về CÁI
KHÔNG tuyệt đối của Đạo. Trong cơi không an lạc
ấy Thầy vẫn thường hằng hoà nhập với sự sống.
Muốn đến viếng Thầy, thiện khách chỉ cần một có
một khoảng Tâm Không là đang tiếp cận với Thầy
trong thinh lặng. Có mùi hương trầm và tiếng
chuông công phu đâu đó. Tiếng vọng từ kiếp trước,
kiếp nầy, hay kiếp lai sinh?
Sacramento, Mùa Phật Đản 2006
Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn
Địa chỉ liên lạc:
Doantran@sbcglobal.net
(Trích
tap
chi Van Hoa Phat Giao )
tôn giáo - phật giáo